1. Chào mừng bạn đến với CLB Yêu Cổ Nhạc ANH EM ! Nếu đây là lần đầu bạn tham gia, để có thể cùng mọi người chia sẻ các vở cải lương hay hoặc thảo luận về các vấn đề trên diễn đàn vui lòng ĐĂNG KÍ thành viên !
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Bàn về 20 bản Tổ cổ nhạc tài tử Nam phần

Năm 2012 tác giả Trần Phước Thuận cho xuất bản cuốn “Bước đầu tìm hiểu tác giả và tác phẩm cổ nhạc Bạc Liêu” gồm những bài ông đã viết từng được đăng rải rác trên các báo và các trang mạng trên 10 năm trước đó. Cuốn sách này giới thiệu 15 tác giả tiêu biểu của Bạc Liêu có ảnh hưởng tới nền cổ nhạc Nam Phần. Tuy được Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Namđánh giá là một tác phẩm thuộc loại nghiên cứu, sưu tầm, nhưng các bài viết của Trần Phước Thuận không dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học mà chỉ dựa trên cảm tính chủ quan, không có chứng cứ và đa phần thuộc loại giai thoại, huyền thoại với chủ đích đề cao địa phương Bạc Liêu trong lãnh vực cổ nhạc.


Theo Trần Phước Thuận, Nhạc Khị là người đã canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa 20 bản Tổ của nền cổ nhạc Nam Phần. Mở đầu cho bài viết thứ nhứt trong cuốn sách nầy có tựa đề là “Nhạc Khị”, Trần Phước Thuận viết: “Nhạc Khị – người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, đã được anh em nghệ nhân, nghệ sĩ ở đây tôn xưng là Hậu Tổ…” và ông đã chú thích ý nghĩa của chữ “nhạc” nầy là: “Trong những thập niên trước, người Bạc Liêu ít khi gọi những thầy đờn cổ nhạc là nhạc sư hay nhạc sĩ, mà chỉ gọi vắn tắt là “nhạc” cộng thêm cái tên của người đó. Từ “nhạc” vừa để chỉ nghề nghiệp vừa để chỉ tính chất chuyên nghiệp, lâu dần trở thành một thành tố của tên người”. Chỉ riêng với lời giải thích ngay trong dòng đầu tiên của cuốn sách cũng đã đủ để cho độc giả đánh giá về sự không chính xác của tác phẩm nầy.

Trở lại đầu thế kỷ 20 ở miền Nam, tên của người ta thường được ghép với nghề nghiệp hoặc chức vụ của họ, thí dụ như trong nhạc giới, các vị sau đây thường được người miền Nam nhắc tới như Phó Mười Hai (phó tổng Mười Hai – Tống Hữu Định), Ký Quờn (thầy ký Quờn – Trần Quang Quờn), Đốc phủ Bảy (Đốc phủ sứ Lê Quang Liêm), Sư Nguyệt Chiếu, Bầu Ninh (ông bầu gánh hát bội tên Lương Khắc Ninh), Giáo Thinh (thầy giáo tên Thinh – Nguyễn Văn Thinh)…, những người thuộc giới nhạc lễ thì được gọi là “nhạc” (nhạc-sanh tức là người đứng đầu ban cổ nhạc ghép với tên của mình như Nhạc Láo, Nhạc Thời ở vùng Cần Giuộc, Cần Đước. Như vậy, khi đề cập tới tên “Nhạc Khị” thì ta biết ngay là ông Khị chuyên về nhạc lễ chứ không phải là chỉ dùng để gọi một ông thầy đờn cổ nhạc đơn thuần. Riêng các vị nhạc sư, nhạc sĩ thời trước được dân miền Nam gọi là “thầy” hoặc “cậu” (chữ “cậu” sau nầy vẫn được giới cải lương dùng để gọi các ông bầu hoặc các nghệ sĩ đàn anh được trọng vọng trong nghề). Ngoài ra, các nhạc sĩ, ca sĩ thời đó được gọi với cái tên rất đặc thù của người miền Nam là lấy thứ bậc trong gia đình ghép với cái tên của mình như Ba Đợi, cô Hai Cúc, Tư Triều, Sáu Lầu…

Nếu như Trần Phước Thuận chỉ đề cao Nhạc Khị là “Hậu tổ cổ nhạc Bạc Liêu” thì đó là chuyện riêng của địa phương Bạc Liêu, không có gì đáng bàn, nhưng ông lại viết: “Nhạc Khị là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa hai mươi bản Tổ để làm căn bản cho đờn ca tài tử và cải lương Nam Phần và để chứng minh Nhạc Khị là người đã hệ thống hóa 20 bản Tổ, Trần Phước Thuận đem Cao Văn Lầu ra làm nhân chứng: “Tôi (nhạc sĩ Cao Văn Lầu) được thầy (Nhạc Khị) dạy đủ 20 bản Tổ và bốn bài tứ bửu từ năm 1906. Chính thầy là người có công trong việc canh tân, hiệu đính, đặt tên và hệ thống 20 bản nhạc có giai điệu độc lập thành 20 bản Tổ (ba nam, sáu bắc, tứ oán và bảy bài nhạc lễ)”.

Lời của Cao Văn Lầu có đáng tin cậy hay không thì chúng ta hãy tìm đọc bài viết của nhà báo Thanh Cao đăng trên báo Dân Mới ngày 20-12-1953 với tựa đề “Một cuộc phỏng vấn bất ngờ”, lúc đó Cao Văn Lầu còn không nhớ rõ năm sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang và năm sanh của mình thì làm sao mà ta có thể tin được sự chính xác khi ông kể về ngày tháng của những việc làm của thầy ông! Ngoài ra, từ buổi hội thảo đầu tiên về bài Dạ Cổ Hoài Lang vào năm 1989 cho tới nay, đã có nhiều bài viết và nhiều cuộc hội thảo của các nhà nghiên cứu về đề tài Dạ Cổ Hoài Lang nhưng kết quả cũng chỉ là những sự phỏng đoán về năm tháng cùng nguyên nhân ra đời của bài Dạ Cổ Hoài Lang, trong đó có cả những cuộc phỏng vấn Cao Văn Lầu khi ông còn sanh tiền, vì vậy, lời khẳng định của Cao Văn Lầu về việc ông học đủ 20 bài Tổ và bộ Tứ Bửu vào năm 1906 cần phải kiểm chứng lại.

Về tài nghệ của Nhạc Khị, Vương Hồng Sển kể rằng Nhạc Khị có thể một mình chơi được nhiều loại nhạc khí cùng một lúc: “Ông Hai Khị đau cổ xạ, ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó. Thế mà ông có tài riêng, không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài cứ đến nhà, ban đầu ông dở mùng cho xem, chỉ thấy trống, kèn, chụp chõa trơ trơ ở trong ấy, thế rồi khách ra ngồi salon, ông Khị chun vô mùng, một “mình ên” rồi bỗng nghe trọn bộ cổ nhạc khua động có tiết tấu nhịp nhàng y như có cả bốn năm người hòa tấu: trống xổ, kèn thổi, đờn kéo ò e, chụp chõa lùng tùng xòa, các việc đều do một mình ông Nhạc Khị (Nhạc sanh Khị) điều khiển” và theo Huỳnh Minh trong “Bạc Liêu Xưa và Nay” thì “Nhạc Khị xử dụng bốn món nhạc khí: Đẩu, bạc, kèn, phách tấu lên cùng một lúc, rất mực điêu luyện, ai cũng khen phục”, đó là những nhạc khí dùng cho bộ môn nhạc lễ chứ không phải là của nhạc Tài Tử. Theo Trần Phước Thuận, “Năm 30 tuổi, Nhạc Khị đã thành lập ban nhạc cổ, bề ngoài là một ban nhạc phục vụ các buổi ma chay, tiệc tùng, lễ lạc... để kiếm sống, nhưng thực chất đây là một “lò” đào luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu, cũng vừa làm phương tiện để tuyên truyền những bài ca yêu nước”!!!, như vậy là năm 1900 Nhạc Khị mới thành lập ban nhạc lễ và đào tạo học trò nhưng ông Thuận không nói rõ là tới năm nào Nhạc Khị mới chuyển qua nhạc Tài Tử vì hai bộ môn nầy khác nhau, dàn nhạc lễ chủ yếu là bộ gõ (trống, đẩu, thanh la, bạc, bồng…) cùng với bộ hơi (kèn) và trong bộ đờn cây thì dùng đờn cò, gáo là chánh, trong khi nhạc Tài Tử chỉ có bộ đờn cây và tiêu, sáo mà thôi. Khi Nhạc Khị mới thành lập ban nhạc lễ thì vào năm 1900 đã có nhóm nhạc Tài Tử miền Đông của Tư Triều ở Mỹ Tho sang Pháp trình diễn rồi, tức là lúc đó phong trào nhạc Tài Tử đã phát triển rộng rãi ở miền Nam và đã có nhiều người đờn ca tài giỏi nên mới dám “đem chuông đi đánh xứ người” để giới thiệu một bộ môn nghệ thuật về văn hóa như vậy và Phụng Hoàng Sang ở Sàigòn cũng đã cho xuất bản một cuốn sách về bản đờn và bài ca cho nhạc Tài Tử từ năm 1903.

Thêm một điều quan trọng nữa mà chúng ta cần phải nhấn mạnh là vào năm 1906 chưa có hệ thống 20 bản Tổ như Cao Văn Lầu đã nói cho Trần Phước Thuận “nghe được trực tiếp” để viết lại sau nầy.

Trở lại quá trình của bộ môn nhạc Tài Tử là do các bộ môn ca Huế, nhạc Lễ, hát Bội và Nhã Nhạc cung đình theo bước chân khẩn hoang của những người dân miền Trung vào Nam, qua mỗi vùng đất nước, thâu nhận thêm những bài dân ca, câu hò, điệu lý của từng vùng mà tạo thành một loại ca nhạc “sa lông”, tức là loại để đờn ca giải trí vui chơi trong lúc nhàn hạ chớ không có trình diễn trên sân khấu gọi là nhạc Tài Tử. Sau cuộc binh biến kinh thành Huế vào năm 1885, một số nhạc quan và nhạc công của triều đình lánh nạn vào miền Nam sinh sống đã làm cho bộ môn nhạc Tài Tử phong phú thêm và đến cuối thế kỷ 19 thì đã có nhiều nhóm sinh hoạt về nhạc Tài Tử ở các nơi như Sàigòn, Long An, Mỹ Tho, Long Xuyên, Vĩnh Long, Cần Thơ... Ta cũng phải nhắc thêm các vị khoa bảng của miền Nam đã từng ra Huế học nên biết về ca Huế đã có công đóng góp cho bộ môn nhạc Tài Tử như Phan Hiển Đạo (Vĩnh Kim, Mỹ Tho), Tôn Thọ Tường (Sàigòn)…

Đến đầu thế kỷ 20 thì mỗi miền, mỗi vùng ở Nam Phần đều có những người ca hay đờn giỏi, nhưng tựu trung thì ta có thể chia ra làm hai nhóm là nhạc Tài Tử miền Đông (gồm các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Gò Công, Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Bến Tre) và miền Tây (gồm các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng, Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu). Tuy không có sự bầu bán nhưng nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) ở miền Đông và Ký Quờn (Trần Quang Quờn) ở miền Tây được coi như là chủ soái của hai nhóm nầy. Về nhạc sĩ của mỗi vùng thì Sàigòn có Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tùng Bá, Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh Cư; miền Đông (Long An, Sàigòn, Chợ Lớn, Bình Dương) có Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi); Mỹ Tho có Tư Triều (Nguyễn Tống Triều), Bảy Triều, Năm Khương (Vĩnh Kim); Vĩnh Long có Phạm Đăng Đàn, Kinh Lịch Quờn (Trần Quang Quờn), Tống Hữu Định (Phó Mười Hai).... Về soạn giả thì có các ông Trương Duy Toản (Vĩnh Long), Nguyễn Trọng Quyền (Long Xuyên), Phụng Hoàng Sang, Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tùng Bá (Sàigòn), Trần Phong Sắc (Tân An)... Đó là tên tuổi các vị thầy đờn, soạn giả của bộ môn nhạc Tài Tử đã được nhạc giới biết tiếng trong những năm 1900-1920.

Khi bộ môn Cải Lương thành hình và được phổ biến rộng rãi vào đầu thập niên 1920 thì nhạc Tài Tử được đưa vào trong các vở tuồng cải lương, nhưng bài bản của nhạc Tài Tử ở mỗi vùng lại có nhiều dị biệt nên qua sự trung gian hòa giải của các vị thầy đờn Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tùng Bá, Phạm Đăng Đàng và dưới sự chủ trì của Ba Đợi, hai nhóm nhạc miền Đông và miền Tây đã họp tại chợ Nhà Dài thuộc xã Tân Lân, Cần Đước, Long An để thống nhứt bài bản và phong cách trình tấu Đờn Ca Tài Tử Nam Phần. Một điều quan trọng mà một nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh về phong cách trình tấu của Đờn Ca Tài Tử Nam bộ là: “Từ cuộc họp nầy, 20 bài bản Tổ mới ra đời, những bài bản được lựa chọn, tiêu biểu cho 4 điệu nhạc của Đờn ca tài tử Nam Phần, có cấu trúc âm thanh khác nhau, 6 bản điệu Bắc, 7 bài điệu nhạc lễ), 3 bản điệu Nam, 4 bản điệu Oán và 4 hơi Xuân, Ai, Đảo, Nhạc. Ngoài các cấu trúc âm thanh của 4 điệu 4 hơi nầy ra, các hơi điệu Quảng Đông, Triều Châu, Khờ Me, ký âm theo Nhạc Tây phương, không đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam, giới chơi Đờn ca tài tử Nam Phần chính thống, không chấp nhận”. Trong khi đó, theo sách “Ca nhạc cổ điển” của Trịnh Thiên Tư thì ta thấy đa số bài bản do các nhạc sĩ, soạn giả ở Bạc Liêu sáng tác mang hơi Tiều được dùng nhiều trong bộ môn cải lương.

Ngoài ra, chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng là theo dõi diễn tiến tên gọi của bài Tứ Đại Oán, một bài ca rất phổ thông vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trước thập niên 1920 khi chưa có hệ thống 20 bản Tổ thì bài nầy được báo giới cùng nhạc giới thời đó gọi là “Tứ Đại”mà thôi, sau nầy khi bản Tứ Đại được đưa vào thể điệu Oán của hệ thống 20 bản Tổ thì từ đó cái tên “Tứ Đại Oán” mới được dùng cho tới bây giờ. Tên gọi “Tứ Đại Oán” đầu tiên được tìm thấy trong những vở tuồng cải lương “Bội Phu Quả Báo” của Nguyễn Trọng Quyền in vào tháng 6 năm 1923, sau đó là các vở “Nguyệt Hà tầm phu”, “Sát thê cầu tướng”, “Nguyệt Kiểu xuất gia”, của Trần Phong Sắc in năm 1925, kế tiếp là các tuồng cải lương “Kim Vân Kiều” của Lê Công Kiền, “Giọt lệ chung tình” của Nguyễn Tri Khương soạn năm 1926… Cũng trong năm 1926 Trần Phong Sắc cho xuất bản cuốn “Cầm Ca Tân Điệu” có in đủ 20 bản Tổ gồm 4 thể điệu Bắc, Lễ, Nam, Oán như hiện nay cùng với một số bài bản tài tử cả vắn lẫn dài, trong đó có một số bài Ngự và sau hết là các bài lý cùng một số bài thông dụng của sân khấu cải lương, đây là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam phổ biến đầy đủ 20 bản Tổ của bộ môn nhạc Tài Tử Nam Phần gồm có cả bản đờn và bài ca.

Như vậy ta có thể phỏng đoán khá chính xác là hệ thống 20 bản Tổ ra đời trong cuộc họp thống nhứt bài bản vào năm 1922 hoặc trễ lắm là trước tháng 6 năm 1923 tại xã Tân Lân, Cần Đước, Long An do Ba Đợi chủ tọa với sự đóng góp của hai nhóm nhạc Tài Tử miền Đông và miền Tây, có thể cũng có sự tham dự của các soạn giả Nguyễn Trọng Quyền và Trần Phong Sắc nên các ông đã là những người tiên phong hưởng ứng và phổ biến tên của 20 bài bản Tổ trong các vở tuồng cải lương cũng như đã tập hợp các bài bản của bộ môn nhạc tài tử và cải lương để in thành sách theo hệ thống mới này. Cũng cần nói thêm là Trần Phong Sắc (1873-1928) cùng với Nguyễn Trọng Quyền (1876-1953) và Trương Duy Toản (1885-1957) là ba vị Thầy tuồng (vừa là soạn giả vừa đạo diễn) nổi tiếng nhứt trong ba thập niên đầu của thế kỷ 20. Điều nầy cũng chứng minh thêm là vào năm 1906 chưa có hệ thống 20 bản Tổ gồm 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 bài Lễ (7 bài Cò hoặc 7 bài Bắc Lễ) theo những tên bài bản đã được thống nhứt mà nhạc giới miền Nam đã và đang dùng hiện nay để cho Cao Văn Lầu có thể học đầy đủ 20 bản từ Nhạc Khị.

Việc Cao Văn Lầu học đủ 20 bản Tổ và bộ Tứ Bửu từ năm 1906 là do Trần Phước Thuận thuật lại với nhà báo Nguyễn Thiện được đăng trên Phụ Nữ Online ngày 28-4-2014 với tựa đề “Trần Phước Thuận - từ điển sống về đờn ca tài tử Nam bộ”, nhưng “từ điển sống” nầy lại quên một điều là ông đã từng viết về bước đầu học nhạc của Cao Văn Lầu như sau: “Cao Văn Lầu nhiều lần nghe ông tấu đờn đã sinh lòng mến thích, nên đã xin cha cho học đờn. Ông Chín Giỏi cũng là một người biết đờn, mặc dù đờn không giỏi lắm, nhưng lại mang nặng nghiệp cầm ca, nên khi nghe con xin học đờn mà vị thầy lại là một người có tiếng tăm lừng lẫy, nên ông liền đồng ý. Thế là vài ngày sau, ông Chín Giỏi dắt con đến nhà Nhạc Khị để xin thụ nghiệp (1908), Nhạc Khị lúc đó cũng vừa thành lập ban cổ nhạc được vài năm rất cần những tài năng trẻ nên vui lòng chấp nhận”. Năm 1908 mới được đi học nhạc mà năm 1906 đã biết đờn đủ 20 bản Tổ và bộ Tứ Bửu thì quả thật Cao Văn Lầu là... thiên tài có một không hai trên đời, đó là chưa kể tới việc những người muốn học đờn đủ 20 bản Tổ phải mất một thời gian dài. Những điều bịa đặt thường gặp phải trường hợp “tiền hậu bất nhứt” là vậy!

Khi viết cuốn “Bản Đờn Tranh và Bài Ca” vào năm 1903, trong phần Tiểu tự, Phụng Hoàng Sang có nhắc tới tên của các nhân vật thuộc bộ môn nhạc Tài Tử đương thời như sau: “Còn những người nào muốn rõ biết cách thức cao xa nữa thì xin nhờ mấy người danh sư, như là: Cậu Ba Đại, thầy Phạm Đăng Đàn, cậu Tám Cang, thầy Giáo Nghĩa, cậu Tư Chấn, cùng là thầy Liên Phong, mấy thầy ấy rõ biết cách thức nhiều, và cũng vui lòng mà chỉ thêm cho những người mộ điệu tài tử”. Đến năm 1918 thì báo giới có nhắc tới ban nhạc của Ký Quờn khi nhóm nầy tham gia chung với Hội Nhựt Báo Nam Kỳ đi Lục Tỉnh diễn tuồng “Pháp Việt Nhứt Gia”. Đó là những tên tuổi của các vị đã có tiếng tăm trong bộ môn nhạc Tài Tử hồi đầu thế kỷ 20, trong đó ta phải kể thêm Nguyễn Tùng Bá là người đã hợp tác với Phụng Hoàng Sang viết cuốn “Bản Đờn Tranh và Bài Ca”. Nguyễn Tùng Bá còn viết thêm cuốn “Bản đờn kìm” vào năm 1913 gồm những bản đờn của bộ môn nhạc Tài Tử và cũng có xuống miền Lục Tỉnh dạy nhạc Tài Tử một thời gian. Rất có thể là trong dịp nầy Nhạc Khị, một người chuyên về nhạc Lễ gặp Nguyễn Tùng Bá nên mới có cơ hội tiếp xúc với nhạc Tài Tử để sau nầy khi Bảy Kiên qua học Đờn Ca Tài Tử với Nhạc Khị đã chép được bản “Bắc Man Tấn Cống” mà Trần Phước Thuận cho là Bảy Kiên sáng tác, nhưng ông Thuận cũng đặt nghi vấn là miền Đông cũng có một bản nên không rõ là bản nào có trước! Thật ra thì bản “Bắc Man Tấn Cống” trong bộ Bát Ngự do Ba Đợi sáng tác vào năm 1898-1899 và đã được Phụng Hoàng Sang in trong cuốn “Bản Đờn Tranh và Bài Ca” từ năm 1903, Nguyễn Tùng Bá cũng cho in lại vào năm 1913 trong cuốn “Bản đờn kìm” nên ta có thể đoán Nguyễn Tùng Bá chính là người đã phổ biến bản nầy cho nhóm cổ nhạc tại Bạc Liêu.

Tóm lại, trước khi bài Dạ Cổ Hoài Lang ra đời, ta chưa thấy báo giới hoặc nhạc giới đề cập tới tên của Nhạc Khị hoặc về địa phương Bạc Liêu trong những đề tài về ca nhạc. Theo Huỳnh Minh trong “Bạc Liêu Xưa và Nay” thì “Nhưng tiếc cho tài hoa bạc mạng, vì vướng bịnh cùi mà Nhạc Khị phải lui dần vào bóng tối” và “Nếu Nhạc Khị đã vì bịnh phong đơn mà phải sớm lui, để ngậm ngùi cho khách mộ điệu không ít, thì Bảy Kiên cũng khiến giới cầm ca cảm mộ vô cùng vì đoạn đời khá ly kỳ của ông”, nhưng tác giả Huỳnh Minh không cho biết là Nhạc Khị “lui dần vào bóng tối” vào năm nào.

Học giả Vương Hồng Sển cho ta biết rõ thêm một chi tiết nữa về nghề riêng của Nhạc Khị: “Ở Bạc Liêu, có ông nhạc sanh Hai Khị, thiện nghệ nhiều cây đờn và ông là người Minh Hương, từng thọ giáo đờn Tiều (Triều Châu) tươi mướt đẹp như cô gái “đầu gà đít vịt”. Nhờ pha điệu Tiều nên chế ra điệu Vọng Cổ Bạc Liêu sau nầy”và ông Sển cho Nhạc Khị là “đáng làm hậu tổ Cải Lương” cũng như ông đã nhấn mạnh ghi công hai nhân vật khác đáng làm hậu tổ Cải Lương nữa là André Lê Văn Thận và Trương Duy Toản chớ không phải chỉ riêng Nhạc Khị và ông cũng không đề cập tới việc Nhạc Khị là hậu tổ của Đờn Ca Tài Tử vì nhạc Tài Tử không có hơi điệu Tiều trong câu ca tiếng đờn. Soạn giả Nguyễn Phương cũng nhắc lại lời cô Phùng Há thường nói là: “Nếu nói đến hậu tổ Cải Lương thì bên nhạc đúng là ông Nhạc Khị, bên cải lương là ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền”. Ngoài ra, Vương Hồng Sển cũng giải thích thêm về sinh hoạt của các nhóm nhạc lễ thời đó: “Trước đó nữa, tại các tỉnh Nam kỳ không có dàn đờn cổ nhạc Việt, chỉ có dàn nhạc lễ (thí dụ ở Bạc Liêu có Nhạc Khị), thường dùng vào các cuộc đám ma nhà héo. Mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya, sau buổi tế buổi tụng kinh, thường các thầy nhạc và thầy chùa bày ra đòi chủ nhà nấu cháo trắng để thức sáng đêm, và nhơn dịp ấy, họ cũng hòa đờn, tập dợt ca cho đúng nhịp, để đánh con buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp quan hôn tang tế, thậm chí lễ mừng tân quan, tân gia, khai bằng, khánh hạ, đám giỗ, đám cưới đều có mời họ luôn cho rôm đám”. Do đó, ta có thể khẳng định Nhạc Khị là người giỏi về nhạc Lễ, biết đờn nhiều nhạc khí, có học nhạc Tiều, nhạc Tài Tử và sáng tác một số bài bản được dùng trong bộ môn nhạc Tài Tử, đã có công gầy dựng phong trào đờn ca tài tử ở Bạc Liêu mà sau nầy các truyền nhân của ông đã đóng góp nhiều cho sự lớn mạnh của bộ môn Cải Lương.

Riêng về việc Nhạc Khị có thể xử dụng được bốn, năm món nhạc khí cùng một lúc mà Trần Phước Thuận cho là “nhân vật huyền thoại” (trong sách in năm 2007 ông viết là “nhân vật thần thoại”) thì Vương Hồng Sển hoài nghi về tài nghệ đó: “Không ai biết ông làm cách nào mà được như vậy, có người làm tàng nói rằng ông Khị đánh trống bằng ngón chơn kẹp lại, nhưng còn tay nào đờn, miệng nào thổi kèn, rồi phèng là, chụp chõa không phải tự nhiên nó khua một lượt được? Quả là diệu thuật, và dốt biết ngồi nghe lại ít ai cười hơn”. Quả đúng là huyền thoại vì nếu thực sự mà Nhạc Khị có tài riêng như vậy thì tại sao lại phải chun vô trong mùng để biểu diễn? Vả lại, cầm kỳ thi họa là bốn thú vui tao nhã của tao nhân mặc khách thời xưa mà cầm (đờn) lại đứng đầu, không lẽ phong cách Đờn Ca Tài Tử của “Hậu tổ của Đờn Ca Tài Tử Bạc Liêu” là biểu diễn nhạc trong mùng như vậy hay sao?

Khi hai nhà báo Quốc Thắng và Trọng Duy phỏng vấn ông Võ Văn Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng cộng sản, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, đồng Trưởng ban chỉ đạo Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhứt năm 2014 tại Bạc Liêu vào lúc tỉnh đang chuẩn bị tổ chức buổi lễ hội nầy, ông chủ tịch tỉnh cho biết “Nhạc Khị là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống 20 bản Tổ” với những luận điệu và chi tiết giống như trong bài viết của Trần Phước Thuận. Cũng trong dịp nầy, Viện Âm Nhạc Việt Nam cho thực hiện dự án đầu tiên trong “Chương trình hành động quốc gia bảo vệ nghệ thuật Đờn Ca Tài Tử” là “Dự án thống nhứt 20 bản Tổ”, viện cho thâu thanh 20 bài bản Tổ do các danh cầm, danh ca được chọn từ 21 tỉnh thành của miền Nam, hai miền Đông, Tây mỗi miền đảm nhận 10 bài để thâu thanh. Việc thâu thanh được thực hiện ở 2 địa điểm là Bạc Liêu và Sàigòn, điểm ở Bạc Liêu do nghệ sĩ Thiện Vũ (tỉnh An Giang) phụ trách thực hiện. “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, sau hơn 1 năm rưỡi thực hiện, bộ CD 20 bản Tổ hoàn tất vào khoảng tháng 11 năm 2015, 10 bài bản của miền Tây do Thiện Vũ phụ trách tại địa điểm Bạc Liêu với sự trợ giúp của thạc sĩ Huỳnh Khải (Long An) và một số ca, nhạc sĩ miền Đông vẫn chưa đạt tiêu chuẩn để nhà nghiên cứu Nhị Tấn, một thành viên trong Hội Đồng Nghệ Thuật của dự án nầy phải bức xúc lên tiếng phê bình trong bài
“Nhận xét về bộ CD “20 bài bản Tổ Đờn Ca Tài Tử Nam Phần Việt Nam” của Viện Âm Nhạc Việt Nam – 2014”. Nếu quả thật Nhạc Khị là người đã hiệu đính và thống nhứt 20 bài bản Tổ như người lãnh đạo của tỉnh Bạc Liêu và Trần Phước Thuận đã khẳng định thì điều tối thiểu là truyền nhân của Nhạc Khị tại Bạc Liêu cũng phải biết đờn, ca ít nhất là 10 bài bản Tổ nhưng điều nầy cũng chưa thực hiện được.

Hai mươi bản Tổ là kết tinh của nhiều bài bản do tiền nhân đã sáng tác từ trước để tạo nên một bộ môn nghệ thuật âm nhạc đặc thù của miền Nam và sự hệ thống hóa cùng thống nhứt 20 bài bản Tổ không thể do một cá nhân làm được mà đây là sự kết hợp của nhạc giới cả hai miền Đông, Tây Nam Phần để lưu lại cho hậu thế bộ môn nghệ thuật độc đáo nầy và đó là sự đóng góp của tập thể, một truyền thống tốt đẹp của người miền Nam. Trên phương diện khảo cứu, những sự tìm tòi và phát hiện mới đều làm giàu cho nền văn hóa nước nhà. Chi tiết về Nhạc Khị là người đầu tiên canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa 20 bản Tổ của nhạc Tài Tử do Trần Phước Thuận đưa ra cần phải chứng minh khả tín một cách khoa học và cụ thể hơn, nhứt là bài viết của một ông Tổng thư ký của Hội Khoa Học Lịch Sử của một tỉnh được gọi là “cái nôi của Nhạc Tài Tử Nam Bộ” khi viết về đề tài lịch sử nầy.

Nguyễn Tuấn Khanh
nguyenphuc - Bàn về 20 bản Tổ cổ nhạc tài tử Nam phần
Bàn về 20 bản Tổ cổ nhạc tài tử Nam phần

Năm 2012 tác giả Trần Phước Thuận cho xuất bản cuốn “Bước đầu tìm hiểu tác giả và tác phẩm cổ nhạc Bạc Liêu” gồm những bài ông đã viết từng được đăng rải rác trên các báo và các trang mạng trên 10 năm trước đó. Cuốn sách này giới thiệu 15 tác giả tiêu biểu của Bạc Liêu có ảnh hưởng tới nền cổ nhạc Nam Phần. Tuy được Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam đánh giá là một tác phẩm thuộc loại nghiên cứu, sưu tầm, nhưng các bài viết của Trần Phước Thuận không dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học mà chỉ dựa trên cảm tính chủ quan, không có chứng cứ và đa phần thuộc loại giai thoại, huyền thoại với chủ đích đề cao địa phương Bạc Liêu trong lãnh vực cổ nhạc.


Theo Trần Phước Thuận, Nhạc Khị là người đã canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa 20 bản Tổ của nền cổ nhạc Nam Phần. Mở đầu cho bài viết thứ nhứt trong cuốn sách nầy có tựa đề là “Nhạc Khị”, Trần Phước Thuận viết: “Nhạc Khị – người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, đã được anh em nghệ nhân, nghệ sĩ ở đây tôn xưng là Hậu Tổ…” và ông đã chú thích ý nghĩa của chữ “nhạc” nầy là: “Trong những thập niên trước, người Bạc Liêu ít khi gọi những thầy đờn cổ nhạc là nhạc sư hay nhạc sĩ, mà chỉ gọi vắn tắt là “nhạc” cộng thêm cái tên của người đó. Từ “nhạc” vừa để chỉ nghề nghiệp vừa để chỉ tính chất chuyên nghiệp, lâu dần trở thành một thành tố của tên người”. Chỉ riêng với lời giải thích ngay trong dòng đầu tiên của cuốn sách cũng đã đủ để cho độc giả đánh giá về sự không chính xác của tác phẩm nầy.

Trở lại đầu thế kỷ 20 ở miền Nam, tên của người ta thường được ghép với nghề nghiệp hoặc chức vụ của họ, thí dụ như trong nhạc giới, các vị sau đây thường được người miền Nam nhắc tới như Phó Mười Hai (phó tổng Mười Hai – Tống Hữu Định), Ký Quờn (thầy ký Quờn – Trần Quang Quờn), Đốc phủ Bảy (Đốc phủ sứ Lê Quang Liêm), Sư Nguyệt Chiếu, Bầu Ninh (ông bầu gánh hát bội tên Lương Khắc Ninh), Giáo Thinh (thầy giáo tên Thinh – Nguyễn Văn Thinh)…, những người thuộc giới nhạc lễ thì được gọi là “nhạc” (nhạc-sanh tức là người đứng đầu ban cổ nhạc ghép với tên của mình như Nhạc Láo, Nhạc Thời ở vùng Cần Giuộc, Cần Đước. Như vậy, khi đề cập tới tên “Nhạc Khị” thì ta biết ngay là ông Khị chuyên về nhạc lễ chứ không phải là chỉ dùng để gọi một ông thầy đờn cổ nhạc đơn thuần. Riêng các vị nhạc sư, nhạc sĩ thời trước được dân miền Nam gọi là “thầy” hoặc “cậu” (chữ “cậu” sau nầy vẫn được giới cải lương dùng để gọi các ông bầu hoặc các nghệ sĩ đàn anh được trọng vọng trong nghề). Ngoài ra, các nhạc sĩ, ca sĩ thời đó được gọi với cái tên rất đặc thù của người miền Nam là lấy thứ bậc trong gia đình ghép với cái tên của mình như Ba Đợi, cô Hai Cúc, Tư Triều, Sáu Lầu…

Nếu như Trần Phước Thuận chỉ đề cao Nhạc Khị là “Hậu tổ cổ nhạc Bạc Liêu” thì đó là chuyện riêng của địa phương Bạc Liêu, không có gì đáng bàn, nhưng ông lại viết: “Nhạc Khị là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa hai mươi bản Tổ để làm căn bản cho đờn ca tài tử và cải lương Nam Phần và để chứng minh Nhạc Khị là người đã hệ thống hóa 20 bản Tổ, Trần Phước Thuận đem Cao Văn Lầu ra làm nhân chứng: “Tôi (nhạc sĩ Cao Văn Lầu) được thầy (Nhạc Khị) dạy đủ 20 bản Tổ và bốn bài tứ bửu từ năm 1906. Chính thầy là người có công trong việc canh tân, hiệu đính, đặt tên và hệ thống 20 bản nhạc có giai điệu độc lập thành 20 bản Tổ (ba nam, sáu bắc, tứ oán và bảy bài nhạc lễ)”.

Lời của Cao Văn Lầu có đáng tin cậy hay không thì chúng ta hãy tìm đọc bài viết của nhà báo Thanh Cao đăng trên báo Dân Mới ngày 20-12-1953 với tựa đề “Một cuộc phỏng vấn bất ngờ”, lúc đó Cao Văn Lầu còn không nhớ rõ năm sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang và năm sanh của mình thì làm sao mà ta có thể tin được sự chính xác khi ông kể về ngày tháng của những việc làm của thầy ông! Ngoài ra, từ buổi hội thảo đầu tiên về bài Dạ Cổ Hoài Lang vào năm 1989 cho tới nay, đã có nhiều bài viết và nhiều cuộc hội thảo của các nhà nghiên cứu về đề tài Dạ Cổ Hoài Lang nhưng kết quả cũng chỉ là những sự phỏng đoán về năm tháng cùng nguyên nhân ra đời của bài Dạ Cổ Hoài Lang, trong đó có cả những cuộc phỏng vấn Cao Văn Lầu khi ông còn sanh tiền, vì vậy, lời khẳng định của Cao Văn Lầu về việc ông học đủ 20 bài Tổ và bộ Tứ Bửu vào năm 1906 cần phải kiểm chứng lại.

Về tài nghệ của Nhạc Khị, Vương Hồng Sển kể rằng Nhạc Khị có thể một mình chơi được nhiều loại nhạc khí cùng một lúc: “Ông Hai Khị đau cổ xạ, ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó. Thế mà ông có tài riêng, không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài cứ đến nhà, ban đầu ông dở mùng cho xem, chỉ thấy trống, kèn, chụp chõa trơ trơ ở trong ấy, thế rồi khách ra ngồi salon, ông Khị chun vô mùng, một “mình ên” rồi bỗng nghe trọn bộ cổ nhạc khua động có tiết tấu nhịp nhàng y như có cả bốn năm người hòa tấu: trống xổ, kèn thổi, đờn kéo ò e, chụp chõa lùng tùng xòa, các việc đều do một mình ông Nhạc Khị (Nhạc sanh Khị) điều khiển” và theo Huỳnh Minh trong “Bạc Liêu Xưa và Nay” thì “Nhạc Khị xử dụng bốn món nhạc khí: Đẩu, bạc, kèn, phách tấu lên cùng một lúc, rất mực điêu luyện, ai cũng khen phục”, đó là những nhạc khí dùng cho bộ môn nhạc lễ chứ không phải là của nhạc Tài Tử. Theo Trần Phước Thuận, “Năm 30 tuổi, Nhạc Khị đã thành lập ban nhạc cổ, bề ngoài là một ban nhạc phục vụ các buổi ma chay, tiệc tùng, lễ lạc... để kiếm sống, nhưng thực chất đây là một “lò” đào luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu, cũng vừa làm phương tiện để tuyên truyền những bài ca yêu nước”!!!, như vậy là năm 1900 Nhạc Khị mới thành lập ban nhạc lễ và đào tạo học trò nhưng ông Thuận không nói rõ là tới năm nào Nhạc Khị mới chuyển qua nhạc Tài Tử vì hai bộ môn nầy khác nhau, dàn nhạc lễ chủ yếu là bộ gõ (trống, đẩu, thanh la, bạc, bồng…) cùng với bộ hơi (kèn) và trong bộ đờn cây thì dùng đờn cò, gáo là chánh, trong khi nhạc Tài Tử chỉ có bộ đờn cây và tiêu, sáo mà thôi. Khi Nhạc Khị mới thành lập ban nhạc lễ thì vào năm 1900 đã có nhóm nhạc Tài Tử miền Đông của Tư Triều ở Mỹ Tho sang Pháp trình diễn rồi, tức là lúc đó phong trào nhạc Tài Tử đã phát triển rộng rãi ở miền Nam và đã có nhiều người đờn ca tài giỏi nên mới dám “đem chuông đi đánh xứ người” để giới thiệu một bộ môn nghệ thuật về văn hóa như vậy và Phụng Hoàng Sang ở Sàigòn cũng đã cho xuất bản một cuốn sách về bản đờn và bài ca cho nhạc Tài Tử từ năm 1903.

Thêm một điều quan trọng nữa mà chúng ta cần phải nhấn mạnh là vào năm 1906 chưa có hệ thống 20 bản Tổ như Cao Văn Lầu đã nói cho Trần Phước Thuận “nghe được trực tiếp” để viết lại sau nầy.

Trở lại quá trình của bộ môn nhạc Tài Tử là do các bộ môn ca Huế, nhạc Lễ, hát Bội và Nhã Nhạc cung đình theo bước chân khẩn hoang của những người dân miền Trung vào Nam, qua mỗi vùng đất nước, thâu nhận thêm những bài dân ca, câu hò, điệu lý của từng vùng mà tạo thành một loại ca nhạc “sa lông”, tức là loại để đờn ca giải trí vui chơi trong lúc nhàn hạ chớ không có trình diễn trên sân khấu gọi là nhạc Tài Tử. Sau cuộc binh biến kinh thành Huế vào năm 1885, một số nhạc quan và nhạc công của triều đình lánh nạn vào miền Nam sinh sống đã làm cho bộ môn nhạc Tài Tử phong phú thêm và đến cuối thế kỷ 19 thì đã có nhiều nhóm sinh hoạt về nhạc Tài Tử ở các nơi như Sàigòn, Long An, Mỹ Tho, Long Xuyên, Vĩnh Long, Cần Thơ... Ta cũng phải nhắc thêm các vị khoa bảng của miền Nam đã từng ra Huế học nên biết về ca Huế đã có công đóng góp cho bộ môn nhạc Tài Tử như Phan Hiển Đạo (Vĩnh Kim, Mỹ Tho), Tôn Thọ Tường (Sàigòn)…

Đến đầu thế kỷ 20 thì mỗi miền, mỗi vùng ở Nam Phần đều có những người ca hay đờn giỏi, nhưng tựu trung thì ta có thể chia ra làm hai nhóm là nhạc Tài Tử miền Đông (gồm các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Gò Công, Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Bến Tre) và miền Tây (gồm các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng, Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu). Tuy không có sự bầu bán nhưng nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) ở miền Đông và Ký Quờn (Trần Quang Quờn) ở miền Tây được coi như là chủ soái của hai nhóm nầy. Về nhạc sĩ của mỗi vùng thì Sàigòn có Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tùng Bá, Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh Cư; miền Đông (Long An, Sàigòn, Chợ Lớn, Bình Dương) có Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi); Mỹ Tho có Tư Triều (Nguyễn Tống Triều), Bảy Triều, Năm Khương (Vĩnh Kim); Vĩnh Long có Phạm Đăng Đàn, Kinh Lịch Quờn (Trần Quang Quờn), Tống Hữu Định (Phó Mười Hai).... Về soạn giả thì có các ông Trương Duy Toản (Vĩnh Long), Nguyễn Trọng Quyền (Long Xuyên), Phụng Hoàng Sang, Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tùng Bá (Sàigòn), Trần Phong Sắc (Tân An)... Đó là tên tuổi các vị thầy đờn, soạn giả của bộ môn nhạc Tài Tử đã được nhạc giới biết tiếng trong những năm 1900-1920.

Khi bộ môn Cải Lương thành hình và được phổ biến rộng rãi vào đầu thập niên 1920 thì nhạc Tài Tử được đưa vào trong các vở tuồng cải lương, nhưng bài bản của nhạc Tài Tử ở mỗi vùng lại có nhiều dị biệt nên qua sự trung gian hòa giải của các vị thầy đờn Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tùng Bá, Phạm Đăng Đàng và dưới sự chủ trì của Ba Đợi, hai nhóm nhạc miền Đông và miền Tây đã họp tại chợ Nhà Dài thuộc xã Tân Lân, Cần Đước, Long An để thống nhứt bài bản và phong cách trình tấu Đờn Ca Tài Tử Nam Phần. Một điều quan trọng mà một nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh về phong cách trình tấu của Đờn Ca Tài Tử Nam bộ là: “Từ cuộc họp nầy, 20 bài bản Tổ mới ra đời, những bài bản được lựa chọn, tiêu biểu cho 4 điệu nhạc của Đờn ca tài tử Nam Phần, có cấu trúc âm thanh khác nhau, 6 bản điệu Bắc, 7 bài điệu nhạc lễ), 3 bản điệu Nam, 4 bản điệu Oán và 4 hơi Xuân, Ai, Đảo, Nhạc. Ngoài các cấu trúc âm thanh của 4 điệu 4 hơi nầy ra, các hơi điệu Quảng Đông, Triều Châu, Khờ Me, ký âm theo Nhạc Tây phương, không đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam, giới chơi Đờn ca tài tử Nam Phần chính thống, không chấp nhận. Trong khi đó, theo sách “Ca nhạc cổ điển” của Trịnh Thiên Tư thì ta thấy đa số bài bản do các nhạc sĩ, soạn giả ở Bạc Liêu sáng tác mang hơi Tiều được dùng nhiều trong bộ môn cải lương.

Ngoài ra, chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng là theo dõi diễn tiến tên gọi của bài Tứ Đại Oán, một bài ca rất phổ thông vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trước thập niên 1920 khi chưa có hệ thống 20 bản Tổ thì bài nầy được báo giới cùng nhạc giới thời đó gọi là “Tứ Đại” mà thôi, sau nầy khi bản Tứ Đại được đưa vào thể điệu Oán của hệ thống 20 bản Tổ thì từ đó cái tên “Tứ Đại Oán” mới được dùng cho tới bây giờ. Tên gọi “Tứ Đại Oán” đầu tiên được tìm thấy trong những vở tuồng cải lương “Bội Phu Quả Báo” của Nguyễn Trọng Quyền in vào tháng 6 năm 1923, sau đó là các vở “Nguyệt Hà tầm phu”, “Sát thê cầu tướng”, “Nguyệt Kiểu xuất gia”, của Trần Phong Sắc in năm 1925, kế tiếp là các tuồng cải lương “Kim Vân Kiều” của Lê Công Kiền, “Giọt lệ chung tình” của Nguyễn Tri Khương soạn năm 1926… Cũng trong năm 1926 Trần Phong Sắc cho xuất bản cuốn “Cầm Ca Tân Điệu” có in đủ 20 bản Tổ gồm 4 thể điệu Bắc, Lễ, Nam, Oán như hiện nay cùng với một số bài bản tài tử cả vắn lẫn dài, trong đó có một số bài Ngự và sau hết là các bài lý cùng một số bài thông dụng của sân khấu cải lương, đây là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam phổ biến đầy đủ 20 bản Tổ của bộ môn nhạc Tài Tử Nam Phần gồm có cả bản đờn và bài ca.

Như vậy ta có thể phỏng đoán khá chính xác là hệ thống 20 bản Tổ ra đời trong cuộc họp thống nhứt bài bản vào năm 1922 hoặc trễ lắm là trước tháng 6 năm 1923 tại xã Tân Lân, Cần Đước, Long An do Ba Đợi chủ tọa với sự đóng góp của hai nhóm nhạc Tài Tử miền Đông và miền Tây, có thể cũng có sự tham dự của các soạn giả Nguyễn Trọng Quyền và Trần Phong Sắc nên các ông đã là những người tiên phong hưởng ứng và phổ biến tên của 20 bài bản Tổ trong các vở tuồng cải lương cũng như đã tập hợp các bài bản của bộ môn nhạc tài tử và cải lương để in thành sách theo hệ thống mới này. Cũng cần nói thêm là Trần Phong Sắc (1873-1928) cùng với Nguyễn Trọng Quyền (1876-1953) và Trương Duy Toản (1885-1957) là ba vị Thầy tuồng (vừa là soạn giả vừa đạo diễn) nổi tiếng nhứt trong ba thập niên đầu của thế kỷ 20. Điều nầy cũng chứng minh thêm là vào năm 1906 chưa có hệ thống 20 bản Tổ gồm 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 bài Lễ (7 bài Cò hoặc 7 bài Bắc Lễ) theo những tên bài bản đã được thống nhứt mà nhạc giới miền Nam đã và đang dùng hiện nay để cho Cao Văn Lầu có thể học đầy đủ 20 bản từ Nhạc Khị.

Việc Cao Văn Lầu học đủ 20 bản Tổ và bộ Tứ Bửu từ năm 1906 là do Trần Phước Thuận thuật lại với nhà báo Nguyễn Thiện được đăng trên Phụ Nữ Online ngày 28-4-2014 với tựa đề “Trần Phước Thuận - từ điển sống về đờn ca tài tử Nam bộ”, nhưng “từ điển sống” nầy lại quên một điều là ông đã từng viết về bước đầu học nhạc của Cao Văn Lầu như sau: “Cao Văn Lầu nhiều lần nghe ông tấu đờn đã sinh lòng mến thích, nên đã xin cha cho học đờn. Ông Chín Giỏi cũng là một người biết đờn, mặc dù đờn không giỏi lắm, nhưng lại mang nặng nghiệp cầm ca, nên khi nghe con xin học đờn mà vị thầy lại là một người có tiếng tăm lừng lẫy, nên ông liền đồng ý. Thế là vài ngày sau, ông Chín Giỏi dắt con đến nhà Nhạc Khị để xin thụ nghiệp (1908), Nhạc Khị lúc đó cũng vừa thành lập ban cổ nhạc được vài năm rất cần những tài năng trẻ nên vui lòng chấp nhận”. Năm 1908 mới được đi học nhạc mà năm 1906 đã biết đờn đủ 20 bản Tổ và bộ Tứ Bửu thì quả thật Cao Văn Lầu là... thiên tài có một không hai trên đời, đó là chưa kể tới việc những người muốn học đờn đủ 20 bản Tổ phải mất một thời gian dài. Những điều bịa đặt thường gặp phải trường hợp “tiền hậu bất nhứt” là vậy!

Khi viết cuốn “Bản Đờn Tranh và Bài Ca” vào năm 1903, trong phần Tiểu tự, Phụng Hoàng Sang có nhắc tới tên của các nhân vật thuộc bộ môn nhạc Tài Tử đương thời như sau: “Còn những người nào muốn rõ biết cách thức cao xa nữa thì xin nhờ mấy người danh sư, như là: Cậu Ba Đại, thầy Phạm Đăng Đàn, cậu Tám Cang, thầy Giáo Nghĩa, cậu Tư Chấn, cùng là thầy Liên Phong, mấy thầy ấy rõ biết cách thức nhiều, và cũng vui lòng mà chỉ thêm cho những người mộ điệu tài tử”. Đến năm 1918 thì báo giới có nhắc tới ban nhạc của Ký Quờn khi nhóm nầy tham gia chung với Hội Nhựt Báo Nam Kỳ đi Lục Tỉnh diễn tuồng “Pháp Việt Nhứt Gia”. Đó là những tên tuổi của các vị đã có tiếng tăm trong bộ môn nhạc Tài Tử hồi đầu thế kỷ 20, trong đó ta phải kể thêm Nguyễn Tùng Bá là người đã hợp tác với Phụng Hoàng Sang viết cuốn “Bản Đờn Tranh và Bài Ca”. Nguyễn Tùng Bá còn viết thêm cuốn “Bản đờn kìm” vào năm 1913 gồm những bản đờn của bộ môn nhạc Tài Tử và cũng có xuống miền Lục Tỉnh dạy nhạc Tài Tử một thời gian. Rất có thể là trong dịp nầy Nhạc Khị, một người chuyên về nhạc Lễ gặp Nguyễn Tùng Bá nên mới có cơ hội tiếp xúc với nhạc Tài Tử để sau nầy khi Bảy Kiên qua học Đờn Ca Tài Tử với Nhạc Khị đã chép được bản “Bắc Man Tấn Cống” mà Trần Phước Thuận cho là Bảy Kiên sáng tác, nhưng ông Thuận cũng đặt nghi vấn là miền Đông cũng có một bản nên không rõ là bản nào có trước! Thật ra thì bản “Bắc Man Tấn Cống” trong bộ Bát Ngự do Ba Đợi sáng tác vào năm 1898-1899 và đã được Phụng Hoàng Sang in trong cuốn “Bản Đờn Tranh và Bài Ca” từ năm 1903, Nguyễn Tùng Bá cũng cho in lại vào năm 1913 trong cuốn “Bản đờn kìm” nên ta có thể đoán Nguyễn Tùng Bá chính là người đã phổ biến bản nầy cho nhóm cổ nhạc tại Bạc Liêu.

Tóm lại, trước khi bài Dạ Cổ Hoài Lang ra đời, ta chưa thấy báo giới hoặc nhạc giới đề cập tới tên của Nhạc Khị hoặc về địa phương Bạc Liêu trong những đề tài về ca nhạc. Theo Huỳnh Minh trong “Bạc Liêu Xưa và Nay” thì “Nhưng tiếc cho tài hoa bạc mạng, vì vướng bịnh cùi mà Nhạc Khị phải lui dần vào bóng tối”“Nếu Nhạc Khị đã vì bịnh phong đơn mà phải sớm lui, để ngậm ngùi cho khách mộ điệu không ít, thì Bảy Kiên cũng khiến giới cầm ca cảm mộ vô cùng vì đoạn đời khá ly kỳ của ông”, nhưng tác giả Huỳnh Minh không cho biết là Nhạc Khị “lui dần vào bóng tối” vào năm nào.

Học giả Vương Hồng Sển cho ta biết rõ thêm một chi tiết nữa về nghề riêng của Nhạc Khị: “Ở Bạc Liêu, có ông nhạc sanh Hai Khị, thiện nghệ nhiều cây đờn và ông là người Minh Hương, từng thọ giáo đờn Tiều (Triều Châu) tươi mướt đẹp như cô gái “đầu gà đít vịt”. Nhờ pha điệu Tiều nên chế ra điệu Vọng Cổ Bạc Liêu sau nầy”và ông Sển cho Nhạc Khị là “đáng làm hậu tổ Cải Lương” cũng như ông đã nhấn mạnh ghi công hai nhân vật khác đáng làm hậu tổ Cải Lương nữa là André Lê Văn Thận và Trương Duy Toản chớ không phải chỉ riêng Nhạc Khị và ông cũng không đề cập tới việc Nhạc Khị là hậu tổ của Đờn Ca Tài Tử vì nhạc Tài Tử không có hơi điệu Tiều trong câu ca tiếng đờn. Soạn giả Nguyễn Phương cũng nhắc lại lời cô Phùng Há thường nói là: “Nếu nói đến hậu tổ Cải Lương thì bên nhạc đúng là ông Nhạc Khị, bên cải lương là ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền”. Ngoài ra, Vương Hồng Sển cũng giải thích thêm về sinh hoạt của các nhóm nhạc lễ thời đó: “Trước đó nữa, tại các tỉnh Nam kỳ không có dàn đờn cổ nhạc Việt, chỉ có dàn nhạc lễ (thí dụ ở Bạc Liêu có Nhạc Khị), thường dùng vào các cuộc đám ma nhà héo. Mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya, sau buổi tế buổi tụng kinh, thường các thầy nhạc và thầy chùa bày ra đòi chủ nhà nấu cháo trắng để thức sáng đêm, và nhơn dịp ấy, họ cũng hòa đờn, tập dợt ca cho đúng nhịp, để đánh con buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp quan hôn tang tế, thậm chí lễ mừng tân quan, tân gia, khai bằng, khánh hạ, đám giỗ, đám cưới đều có mời họ luôn cho rôm đám”. Do đó, ta có thể khẳng định Nhạc Khị là người giỏi về nhạc Lễ, biết đờn nhiều nhạc khí, có học nhạc Tiều, nhạc Tài Tử và sáng tác một số bài bản được dùng trong bộ môn nhạc Tài Tử, đã có công gầy dựng phong trào đờn ca tài tử ở Bạc Liêu mà sau nầy các truyền nhân của ông đã đóng góp nhiều cho sự lớn mạnh của bộ môn Cải Lương.

Riêng về việc Nhạc Khị có thể xử dụng được bốn, năm món nhạc khí cùng một lúc mà Trần Phước Thuận cho là “nhân vật huyền thoại” (trong sách in năm 2007 ông viết là “nhân vật thần thoại”) thì Vương Hồng Sển hoài nghi về tài nghệ đó: “Không ai biết ông làm cách nào mà được như vậy, có người làm tàng nói rằng ông Khị đánh trống bằng ngón chơn kẹp lại, nhưng còn tay nào đờn, miệng nào thổi kèn, rồi phèng là, chụp chõa không phải tự nhiên nó khua một lượt được? Quả là diệu thuật, và dốt biết ngồi nghe lại ít ai cười hơn”. Quả đúng là huyền thoại vì nếu thực sự mà Nhạc Khị có tài riêng như vậy thì tại sao lại phải chun vô trong mùng để biểu diễn? Vả lại, cầm kỳ thi họa là bốn thú vui tao nhã của tao nhân mặc khách thời xưa mà cầm (đờn) lại đứng đầu, không lẽ phong cách Đờn Ca Tài Tử của “Hậu tổ của Đờn Ca Tài Tử Bạc Liêu” là biểu diễn nhạc trong mùng như vậy hay sao?

Khi hai nhà báo Quốc Thắng và Trọng Duy phỏng vấn ông Võ Văn Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng cộng sản, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, đồng Trưởng ban chỉ đạo Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhứt năm 2014 tại Bạc Liêu vào lúc tỉnh đang chuẩn bị tổ chức buổi lễ hội nầy, ông chủ tịch tỉnh cho biết “Nhạc Khị là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống 20 bản Tổ” với những luận điệu và chi tiết giống như trong bài viết của Trần Phước Thuận. Cũng trong dịp nầy, Viện Âm Nhạc Việt Nam cho thực hiện dự án đầu tiên trong “Chương trình hành động quốc gia bảo vệ nghệ thuật Đờn Ca Tài Tử”“Dự án thống nhứt 20 bản Tổ”, viện cho thâu thanh 20 bài bản Tổ do các danh cầm, danh ca được chọn từ 21 tỉnh thành của miền Nam, hai miền Đông, Tây mỗi miền đảm nhận 10 bài để thâu thanh. Việc thâu thanh được thực hiện ở 2 địa điểm là Bạc Liêu và Sàigòn, điểm ở Bạc Liêu do nghệ sĩ Thiện Vũ (tỉnh An Giang) phụ trách thực hiện. “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, sau hơn 1 năm rưỡi thực hiện, bộ CD 20 bản Tổ hoàn tất vào khoảng tháng 11 năm 2015, 10 bài bản của miền Tây do Thiện Vũ phụ trách tại địa điểm Bạc Liêu với sự trợ giúp của thạc sĩ Huỳnh Khải (Long An) và một số ca, nhạc sĩ miền Đông vẫn chưa đạt tiêu chuẩn để nhà nghiên cứu Nhị Tấn, một thành viên trong Hội Đồng Nghệ Thuật của dự án nầy phải bức xúc lên tiếng phê bình trong bài
“Nhận xét về bộ CD “20 bài bản Tổ Đờn Ca Tài Tử Nam Phần Việt Nam” của Viện Âm Nhạc Việt Nam – 2014”. Nếu quả thật Nhạc Khị là người đã hiệu đính và thống nhứt 20 bài bản Tổ như người lãnh đạo của tỉnh Bạc Liêu và Trần Phước Thuận đã khẳng định thì điều tối thiểu là truyền nhân của Nhạc Khị tại Bạc Liêu cũng phải biết đờn, ca ít nhất là 10 bài bản Tổ nhưng điều nầy cũng chưa thực hiện được.

Hai mươi bản Tổ là kết tinh của nhiều bài bản do tiền nhân đã sáng tác từ trước để tạo nên một bộ môn nghệ thuật âm nhạc đặc thù của miền Nam và sự hệ thống hóa cùng thống nhứt 20 bài bản Tổ không thể do một cá nhân làm được mà đây là sự kết hợp của nhạc giới cả hai miền Đông, Tây Nam Phần để lưu lại cho hậu thế bộ môn nghệ thuật độc đáo nầy và đó là sự đóng góp của tập thể, một truyền thống tốt đẹp của người miền Nam. Trên phương diện khảo cứu, những sự tìm tòi và phát hiện mới đều làm giàu cho nền văn hóa nước nhà. Chi tiết về Nhạc Khị là người đầu tiên canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa 20 bản Tổ của nhạc Tài Tử do Trần Phước Thuận đưa ra cần phải chứng minh khả tín một cách khoa học và cụ thể hơn, nhứt là bài viết của một ông Tổng thư ký của Hội Khoa Học Lịch Sử của một tỉnh được gọi là “cái nôi của Nhạc Tài Tử Nam Bộ” khi viết về đề tài lịch sử nầy.

Nguyễn Tuấn Khanh
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
NP nói rõ thang âm và âm vực trong láy đờn nhịp thứ 3 câu 2 cây kìm của Kiều My clip trên dùm. Mình chưa hiểu được ! Cảm ơn
Nói một cách vắn tắt đơn giản cho nhanh gọn.
Cổ nhạc Việt Nam nói chung, cổ nhạc Nam Phần nói riêng, là nhạc ngũ cung: Hò, Xự, Xang, Xê, Cống. Từ Hò đến Cống là một thang âm. Thang ở đây hiểu như bậc thang, muốn xuống thấp thì phải từ nấc trên đi xuống, muốn lên cao thì phải từ nấc dưới đi lên.
Muốn đờn ra âm HÒ (là bậc thấp nhất) thì phải đờn từ nốt cao đi xuống mới ra âm có dấu huyền, như cống xê xang xư HÒ.
Muốn đờn ra âm CỐNG thì phải đờn từ nốt thấp lên mới ra âm có dấu sắc (hỏi ngã), như Hò xự xang xê CỐNG.
Đại khái như vậy nếu bản đờn dứt LIU thì phải đờn từ nốt thấp lên, như Xàng xề phan LIU. Nếu bản đờn dứt HÒ thì phải đờn từ nốt cao xuống, như Xế xan xư HÒ (LÌU). Nhiều người đờn bắc hay lẫn lộn điều nầy. Vì lời ca dấu huyền mà mình đờn ra âm không dấu thì sai với lòng bản, lời ca không dấu mà mình đờn ra âm dấu huyền cũng sai với lòng bản, và ai về cấu trúc âm thanh.
Tóm lại thang âm là một chuỗi âm thanh từ nốt thấp nhất đến nốt cao nhất của các nốt nhạc (chữ đờn) căn bản trong một hệ thống âm thanh.
Âm vực là cao độ trầm bỗng giữa các thang âm với nhau. Như cây đờn guitar có 3 âm vực lá Trầm, Trung và Bỗng. Mỗi âm vực được xác định bằng một thang âm biệt lập, chuẩn xác định là (thí dụ) Hò, Liu, Líu hoặc Xàng, Xang, Xán hay Xề Xê, Xế chẳng hạn.
Nếu mình lấy âm vực mà nốt XÁN làm XANG thì tới nốt XÀNG phải lấy nốt XANG làm XÀNG. Nếu lấy Xang làm XANG thì khi tới Xàng phải lấy Xàng làm XÀNG. Tương tự như vậy với các nốt đàn khác. Tức là xang và xàng phải ở hai âm vực biết lập nhau. Không thể xang cũng bấm ở đó mà xàng cũng bấm ở đó (cùng một phím).
Nói về đờn kìm, khi chọn Xán làm xang thì tới xàng phải bấm phím XANG (xàng). Nói về guitar thì khi chọn xán ở dây 1 làm xang thì khi tới xàng phải bấm xang ở dây 3 để làm xàng. nếu chọn xang ở dây 3 làm xang thì khi tới xàng phải bấm ở dây 5 làm xàng.
Nhiều người đờn Văn Thiên Tường không đúng âm vực mà chỉ đúng thang âm thôi (như Như Ý đờn Nam Ai trong clip trên). Liu và Hò có thể đờn cùng âm vực (nhưng phải khác bậc thang âm thanh) vì nó là âm thấp nhất trong hệ thống âm thanh ngũ cung. Nhưng Xang và Xàng không phải nốt thấp nhất thì không được. Văn Lắm đờn Tứ Đại Oán bị sai là như vậy, vì Liu Tích XỪ, chữ XỪ phải bấm dây 3 (Văn Lắm đờn guitar) mà ông ta bấm dây 1 (chữ XỰ), nghe ra hơi Phụng Cầu, không phải Tứ Đại.
Cái nầy kẽ 5 dòng nhạc như tân nhạc là thấy hiểu liền. Tân nhạc nốt Rề ra Rề và Rê ra Rê chứ không thể đờn lộn xộn như mấy ông "nhạc sĩ" lộn tùng phéo được, vì nó có vị trí chính xác trong 5 dòng kẽ khung nhạc.
Mấy ông nhạc sĩ tự phong hay đờn Văn Thiên Tường tầm bậy ở chỗ câu đờn Tồn xang xế XÊ xể xang xư XÀNG mà mấy ổng đờn Ú liu CÔNG xừ công xê XÀNG (như Nam Ai). Đó là họ mò miễn đúng cái đuôi ăn với câu ca mà thôi, chớ họ không biết cấu trúc lòng bản. Còn nhiều chuyện để nói lắm... nhưng càng nói càng bị vạ miệng.
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Trong Lớp 1 Nam Ai của clip nầy, Như Ý đờn thang âm thì đúng nhưng âm vực thì sai.
Bây giờ rất nhiều người đờn guitar hay đờn như vậy, dĩ nhiên trong đó có Trường Giang và Hoàng Vũ.
Đối với cầy đờn ít dây ít phím như độc huyền, cò, gáo thì chấp nhận được (ví âm vực quá hẹp). Đối với đờn kìm, trong một số loại "dây" nào đó vì thiếu âm vực cũng chấp nhận.
Riêng với cây đờn nhiều dây, nhứt là đờn giutar là nhạc khí Tây phương thì không chấp nhận đờn sai âm vực.
Đối với nhạc lý Tây phương, âm vực rất quan trọng, không thể tùy tiện.
Cây đờn guitar ậm vực rộng (vì là nhạc khí Tây phương), có 3 âm vực thì không thể đổ thừa vì thiếu âm vực được.
Nếu "điếc không sợ súng" thì đờn sao cũng được, vì điếc có nghe tiếng súng đâu mà sợ! Giống như người mù đứng đái giữ đường mà tưởng rằng kín đáo.
Cũng cái lỗi âm vực nầy mà Văn Lắm đờn Tứ Đại Oán tầm bậy, thay vì Liu Tích XỪ mà Văn Lắm đờn Xế Xan XỰ, hết sức là tầm bậy!
Nói tóm lại họ là Thợ Đờn (Nhạc Công) chớ không phải là Nhạc Sĩ (dù là tự sướng tự xưng).
Trong chữ Nho (có người gọi là chữ Hán) thì chữ Sĩ nghĩa là người có học vấn, mà có học vấn thì phải biết. Không có học vấn gọi là thất phu (thất học). Người thất học thì không thể che giấu cái dốt của mình trước mọi người (công chúng), cho nên dễ lòi ra cho thiên hạ thấy.
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Đờn bản nam ai trong một láy đờn qua 2 thang âm có được không?
Chú cho thí dụ câu nào chẳng hạn.
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Đờn kìm, cách cầm cần đờn và bấm ngón hoàn toàn khác với đờn guitar.
Nếu cầm cần đờn và bấm ngón giống guitar người ta nói mình học mò học lóm.
NP thấy có rất nhiều ngưới cầm cần đờn kìm và bấm ngón như guitar, ngay cả Văn Dần xưng là học trò của Duy Trì.
Tay trái cầm cần đờn dùng lóng thứ nhứt của ngón tay cái bợ (chịu) cần đờn, các ngón bấm phải bấm bằng giữa lóng thứ nhứt của các ngón bấm.
Guitar thì cần đờn lọt hổ khẩu, bấm đầu ngón. Không được lẫn lộn giữa hai cách bấm.
Đờn kim, khi gặp hai cung đờn dây lớn và dây nhỏ trùng một ngăn phím thì chỉ dùng một ngón chận (bấm) cả hai dây, thí dụ như Xề Liu, Cồng U, Hò Xan...
Bấm đầu ngón, chạy vừa mỏi tay vừa nhìn lăng xăng không nhàn nhã ung dung theo cung cách đờn kìm. Hãy nhìn ông Ba Tu đờn thì nhận thấy rõ.
Đờn guitar lực nhấn nhẹ (và yếu) nên cầm cần đờn lọt hổ khẩu và bấm đầu ngón.
Đờn kìm phải đờn nhiều chữ sống cho nên phải cần một lực rất mạnh, do đó tay cầm cần đờn phải chịu (nâng) lóng thứ nhứt ngón cái và bấm lóng thứ nhứt của ngón bấm tạo thế gọng kềm (bên VN viết là kìm) như cái cảo thợ mộc mới đủ lực nhấn. Đôi khi gặp chữ vừa nhấn vừa rung phải bấm cả 2 ngón tay cùng một chữ đờn mới đúng hơi (như chữ Xan chẳng hạn). Mấy người bấm đầu ngón (như guitar) thì chỉ đờn lướt lướt như đờn sến, chữ đờn không chắc, không rọi, không đổ hột, không gân guốc, nghe không ra hơi đờn kìm.
Chú nghe Văn Dần đờn kìm rồi nghe Ba Tu đờn thì biết. Ngay cả ông Vĩnh Bảo đờn kìm cũng không được, ổng chỉ đờn tranh mà thôi.
Thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng. Thôi không nói nữa, nói hoài bị vạ miệng.
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Cảm ơn đã NP quan tâm trong việc mình tập đờn. 2 tuần nay mình bận quá nên chưa tập được NP ơi!
Hihi... mai mốt NP lặn sâu cả năm như năm rồi... chú sẽ đi kiếm mệt đó!
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Vậy là chú và chú Út Hột đánh giá chính xác về ông Năm Mấy rồi. Vậy mà còn hỏi NP... hic...
Chú đã test nhạc lý ông Năm Mấy ra sao, nói cho NP nghe với... hihi...
Về các điệu lý (dân ca phổ nhạc) thì gần như 100% là người ta "sáng tác" trên cây đàn guitar (6 dây) theo âm vực bát độ của tân nhạc, cho nên đem áp dụng vào cây đàn kìm (2 dây) theo âm vực ngũ âm của cổ nhạc hơi bị giới hạn. Bởi vậy mà ông Năm Mấy bị hạn chế các điệu lý cũng là lẽ bình thường thôi. Như chú thấy đó, ông Ba Tu cũng có đờn các điệu lý nhiều đâu. Với lại các điệu lý là mới "chế" ra, dựa theo ký âm nhạc Bolero của tân nhạc pha trộn với âm hưởng cổ nhạc Nam Phần, nó hoàn toàn không phải cổ nhạc truyền thống, coi như chỉ là một "phiên bản" khác của lối chơi "tân cổ giao duyên" mà thôi. Một thời gian lâu dài nào đó, khi quay trở về nguồn cội cổ nhạc tài tử chính thống thì nó sẽ bị đào thải thôi (như nhiều bài bản sân khấu canh tân đã bị đào thải).
Những điệu lý đó không có gì khó, nghe tới nghe lui ít lần là đờn được thôi.
Bởi vậy mới có câu chuyện (giai thoại) rằng:
Hồi mới "giải phóng", nhạc sĩ guitar cổ nhạc (tên gì quên rồi) của đài phát thanh giải phóng vô Sài Gòn so tài với nhạc sĩ Văn Vĩ. Ông ấy đờn không hết 20 bản tổ và 10 loại bài bản cổ truyền, bèn hỏi Văn Vĩ biết đờn mấy điệu lý (lúc đó có ít điệu lý) như Lý Đất Giồng, Lý Con Khỉ v.v.. hay không. Văn Vĩ hỏi bản đó ra sao, ông "giải phóng" ấy đờn qua một lần là Văn Vĩ đờn lại nghe y chang. Văn Vĩ nói mấy cái nầy đâu phải cổ nhạc mà đem vào bàn luận trong cổ nhạc.
Chắc chú cũng biết nhạc sĩ Thanh Hải (đờn tranh) tốt nghiệp nhạc viện Miền Bắc về tân nhạc tức là nhạc lý rất vững và khả năng thẩm âm cũng rất vững, vậy mà vô Nam nghe 20 bản tổ có đờn lại được đâu, cho dù nghe tới nghe lui không biết bao nhiêu bận. Vì vậy mà Thanh Hải phải đi tầm sư để học về cổ nhạc.
Tân nhạc và các điệu lý (dựa theo cách sáng tác tân nhạc bolero), viết nhạc sao đờn y vậy không thay đổi. Nhưng bài bản cổ nhạc thì thiên biến vạn hóa, cho nên khó mà học mò. Học mò học lóm chỉ được bản vọng cổ và một số bản vắn thôi. Bài bản lớn mà học mò theo video, audio thì không chắc ăn, người ta nghe biết mình học mò học lóm (dĩ nhiên với người không biết gì thì nghe tưởng đâu đờn hay, vì có ngón theo năng khiếu, nhưng người biết thì người ta nghe về căn bản nên phân biệt được rõ ràng là học lóm hay học có thầy). Học mò, học lóm thì không biết nhạc lý, không phân biệt được thang âm, âm vực, không phân biệt sự khác nhau giữa dây và cung (bậc). Thí dụ như mấy người không biết gì mới gọi dây xề, thậm chí Kim Tử Long (và nhiều người) còn gọi dây xề đào nữa mới chết chứ!,
Đến nỗi ông Mười (Floriada) đờn tài tử rất hay rất độc mà còn lọng cọng giữa Hò nhứt và Hò ba, nói chi ai.
Về dây thì phải nói như sau: dây bắc oán, dây nguyệt điều, dây lai, dây Rạch Giá, dây ngân giang, dây Sa Giang, dây Quả Phụ, dây Tố Lang, dây Nhị Ngũ, dây Tứ Nguyệt vân vân...
Về cung (bậc) thì phải nói như sau: hò nhất, hò nhì, hò ba, hò tư, hò năm, hết.
Dây là chỉ danh, tên của từng loại dây, bản thân nó không cao không thấp mà tùy theo mình vặn trục căng hay chùng dây. Dây là so dây vặn trục.
Cung (bậc) là xác định cao độ, coi giọng người ca cao hay thấp so với một chuẩn cố định nào đó. Cung (bậc) là thay đổi vị trí bấm ngón tay.
Xin lỗi ngay cả ông Ba Tu cũng lọng cọng vấn đề nầy, ngay cả về trường canh (nhanh chậm) ổng cũng lạng quạng khi trả lời phỏng vấn của ông Đặng Hoành Loan hỏi về "nhịp", và ông Ba Tu đờn minh họa sai bét. Mà nói ngay ông Đặng Hoành Loan cũng không rành nên đặt câu hỏi không rõ ràng.
Vấn đề nầy nói ra dài dòng lắm, học tắt khó lòng.
Dục tốc bất đạt!
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Lớp đầu mình mới thuộc (bấm trúng cung thôi) chứ có đúng theo tiết tấu của Ông Ba Tu gì đâu. Chỉ nghe có hơi xuân tình thôi à. Xin lớp cuối để tập tiếp cho thuộc cung đàn rồi sau đó mới cố gắng tập đúng tiết tấu. Hi Hi
Không đúng tiết tấu thì không đúng nhịp, bài đờn sẽ không có hồn và nhất là không có âm hưởng của ông Ba Tu.
Tức là không có cái "hồn cốt" của tiếng đờn của ông Ba Tu.
Bởi vậy đờn cho được bài bản gì thì rất dễ, nhưng đờn cho hay thì không dễ chút nào.
Thật là "nghề chơi cũng lắm công phu"!!!

PS: Chú ơi, chú nghe mấy clips của ông Năm Mấy đờn, chú có nhận xét thế nào?
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Sorry! chưa thể được NP ơi đang cố gắng nhưng đúng là muốn lấy được ngón đờn của danh cầm đờn kìm độc nhất vô nhị của ông Ba Tu với người bắt đầu tập chơi như mình khó hơn lên trời. Hi Hi
NP thấy XUÂN TÌNH LỚP CHÓT nầy của ông Ba Tu chữ đờn ít mà dễ đờn hơn LỚP ĐẦU nhiều mà chú.
Không có chỗ nào chuyền dây chạy chữ hết đó.
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
Chú thaydat ơi,
Tập đờn
XUÂN TÌNH LỚP CHÓT được chưa?
Làm "thu hoạch" cho các anh chị trên diễn đàn nghe với. Please!
nguyenphuc - Giao lưu với thành viên THAYDAT từ An Giang
XUÂN TÌNH LỚP CHÓT
8 câu nhịp tư hơi bắc (viết cho đờn kìm)
Ký âm chữ đờn nhạc sĩ Ba Tu


-----o0o-----

41. (-) Tàn xàng xán liu la (LIU)
xán ú xán liu liu (-) xàng liu liu xán liu (XÀNG)
42. Xàng xàng xàng xán xàng liu liu (-) liu xán liu xàng xê cống (XÀNG)
ú liu xề cng liu xề xán (U) xừ u liu xán (CỘNG)
43. Công công công (CÔNG) xàng xê cng cộng cộng liu (U)
liu cộng liu xế xán xề (U) xừ u liu xán (CNG)
44. Ú liu tàn xàng xán liu (-) xán u liu cng công (CNG)
hò líu xàn xàn xê líu (HÒ) hò xự xan cng líu cống xê (XAN)
45. Cống xan cống xê (XAN) líu hò xan xê líu (X)
xự xan cng líu hò cống (XÊ) hò líu cống cống xan hò (X)
46. X xự (-) xan hò líu líu xàn xê (CNG)
xàn cống hò xan líu hò (-) tồn hò líu cng(XAN)
47. o Xề (U) xế xán u la liu xán (X)
xề xề xế xán xề (-) phạn ú ú xán (LIU)
48. Xán u liu xế (-) xán u liu x phan (X)
xế xán u ủ u liu (X) liu phán ú xán xàng (LIU).

Nghe Ba Tu đớn minh họa (để kiểm chứng):

XUÂN TÌNH LỚP CHÓT
Nickname : nguyenphuc
Tên thật : Nguyễn Phúc
Sinh nhật : 12-31-1985
Email : andynguyenphuc@gmail.com
Nghề nghiệp : Chưa có thông tin !
Sở thích : Chưa có thông tin !
Đến từ : Orange State
Tổng số bài viết
Số tin nhắn
Được cám ơn
Chữ ký
Chưa có chữ ký !
Tin nhắn
Hình ảnh
Bài hát
nguyenphuc TRÌNH BÀY
Bài hát
HOẠT ĐỘNG GẦN ĐÂY